Thứ Hai, 23 tháng 5, 2016

Chữ B được phát âm thế nào trong tiếng Anh


Trong tiếng Anh, bạn bắt gặp chữ B thường được viết là B, nhưng đôi khi được viết BB liền nhau.

9 cách phát âm chữ A trong tiếng Anh


Nhưng dù viết với một chữ B hay cả hai chữ B liền nhau thì B vẫn được phát âm là /b/. Đây là một âm hai môi, tức là khi phát âm thì hai môi chạm vào nhau để tạo ra âm /b/, theo cách thức tương tự như âm B trong tiếng Việt.



Thầy giáo Nguyễn Anh Đức.


Ngoài việc thường xuyên được phát âm là /b/, nhưng cũng có nhiều trường hợp phát âm chữ B khá thú vị và rất dễ nhớ. Cụ thể chữ B được phát âm theo các cách sau.

B được phát âm là /b/ dù viết với một hay hai chữ B liền nhau.

Ví dụ:

Những âm tiết có một chữ B.

1. baby /ˈbeɪbi/ (n) đứa trẻ

2. back /bæk/ (n) phía sau

3. ball /bɔːl/ (n) quả bóng

4. bamboo /bæmˈbuː/ (n) cây tre

5. bible /ˈbaɪbl ̩/ (n) kinh thánh

6. black /blæk/ (adj) đen

7. blue /bluː/ (adj) xanh

8. pub /pʌb/ (n) quán rượu

9. cab /kæb/ (n) xe taxi

10. lab /læb/ (n) phòng thí nghiệm

Những âm tiết được viết với hai chữ B (bb) thì nó vẫn được phát âm là /b/, ví dụ:

1. bubble /ˈbʌbl ̩/ (n) bong bóng

2. cabbage /ˈkæbɪdʒ/ (n) bắp cải

3. dabble /ˈdæbl ̩/ (v) học đòi

4. rabbit /ˈræbɪt/ (n) con thỏ

5. shabby /ˈʃæbi/ (adj) mòn, tồi tàn

Điểm thú vị nhất là chữ B sẽ câm khi đứng trước chữ T hoặc đứng sau chữ M trong số ít trường hợp dưới đây. Vì B và M đều là âm hai môi, nên khi phát âm người ta sẽ phát âm rõ chữ M và nuốt chữ B để giúp cho quá trình phát âm đơn giản hơn, thay vì phải mở miệng nói hai âm ở cùng một vị trí.

Ví dụ:

1. climb /klaɪm/ (v,n) leo trèo, sự leo trèo

2. debt /det/ (n) món nợ

3. limb /lɪm/ (n) cành, chi người

4. thumb /θʌm/ (n) ngón tay cái

5. tomb /tuːm/ (n) nấm mộ

Cuối cùng là chữ B không câm khi nó là âm bắt đầu một âm tiết mới, dù đứng sau M.

1. camber /ˈkæm.bər/ (n) chỗ lồi lên

2. chambermaid /ˈtʃeɪm.bə.meɪd/ (n) nhân viên buồng, phòng

3. gumbo /ˈgʌm.bəʊ/ (n) quả mướp tây

4. humble /ˈhʌm.bl ̩/ (adj) khiêm tốn

5. rumble /ˈrʌm.bl ̩/ (v) quát tháo, phát hiện ra

Chìa khóa để luyện nói tiếng Anh hiệu quả


"Để nói tiếng Anh một cách tự nhiên, trôi chảy, bạn cần giải phóng 3 thứ: cảm xúc, năng lượng và sự tự tin. Điều thứ tư là phương pháp của giáo viên", Ngô Quỳnh Vân từng tốt nghiệp loại giỏi 2 trường đại học ở Đức và Phần Lan, chia sẻ.


Bài viết này, tác giả phân tích về 3 yếu tố Emotion - Energy - Confidence (Cảm xúc - Năng lượng - Sự tự tin) mà người học có thể chủ động tự điều chỉnh và luyện tập để nói tiếng Anh tự nhiên và trôi chảy nhất.



Ngô Quỳnh Vân là đại sứ chính thức của Đại học Kajaani UAS (Phần Lan).


Cảm xúc

Khi ta nói với cảm xúc mãnh liệt, ta sẽ quên rằng mình đang cố nói tiếng Anh chuẩn. Ta quên luôn rằng ta đang phải làm một điều khó khăn, trái với bản chất của chúng ta (ngoại ngữ chứ không phải tiếng mẹ đẻ). Do đó, bài speaking của ta có vẻ trôi chảy hơn, mặc dù sai về mặt ngữ pháp nhiều.

Sai ngữ pháp, không sao cả! Sống 5 năm ở châu Âu, học với các giáo sư Anh Mỹ, chơi khá thân với bạn bè Canada, Đức, Phần Lan…, mình rút ra thà các bạn sai ngữ pháp còn hơn là nói không trôi chảy, nhát gừng, nói mấy chục giây không diễn đạt được một ý. Nếu các bạn không trôi chảy, người nước ngoài sẽ lập tức mất hứng thú và bạn sẽ mất lượt nói vào tay bạn bè quốc tế.

Họ nói rất nhanh, rất tự nhiên, mặc dù vẫn sai lè lè, nhưng họ hiểu nhau. Khi đang tranh luận trong nhóm, hoặc trên lớp, bạn hoàn toàn có thể bị mất lượt thể hiện mình vì bạn bè quốc tế trình bày ý tưởng của bạn nhanh và hiệu quả hơn. Như thế quả là thiệt thòi và đáng tiếc!

Chính vì thế, bạn hãy chú trọng vào cảm xúc của mình, nói với sự hứng thú mãnh liệt, quên đi lỗi ngữ pháp nhỏ nhặt, miễn sao người đối diện hiểu được ý của bạn, như vậy đã là thành công rồi. Còn sau này, khi bạn đã nói tốt hơn, tự tin hơn, lúc đó luyện ngữ pháp cũng chưa muộn.

Tóm lại, thứ tự đúng: Nói cảm xúc để thật tự nhiên. Rồi mới chỉnh Ngữ pháp chuẩn. Đừng ngược lại nhé! Cầu toàn ngay từ đầu là rất dễ nản.



Vân sở hữu trang vanabroad.com với hơn 16.000 độc giả, chia sẻ các mẹo học tiếng Anh, du học và phong cách sống.


Năng lượng

Tiếng Anh rất khác tiếng Việt ở chỗ chúng ta không cần nhiều năng lượng để phát âm tiếng Việt và không có âm cuối. Trong khi đó, tiếng Anh có nhiều âm cuối, ví dụ từ Strength - ta cần phát ra âm “th” ở cuối từ thì mới chuẩn. Chính vì thế, khi nói tiếng Anh các bạn cần bật hơi ra nhiều hơn, cơ miệng hoạt động mạnh hơn để phát ra các âm được tròn vành rõ chữ.

Để đạt được điều này, bạn phải nói tiếng Anh bằng tất cả năng lượng của mình. Rõ ràng để phát ra được hết các âm, phải dùng rất nhiều năng lượng và body language. Nếu các bạn chỉ ngồi yên, mặt và người không cử động gì… thì khó có thể nói Anh ngữ chuẩn được.

Bạn nên dùng body language vì các cử chỉ, động tác đấy giúp bạn tỏa ra nhiều năng lượng cho tiếng Anh của mình. Thế nên khi luyện nói, các bạn hãy đứng thay vì ngồi, hãy mở to khẩu hình và “hát” (đúng thật, nói tiếng Anh không khác gì hát tròn vành rõ chữ).

Sự tự tin

Nếu bạn không tự tin, chắc hẳn bạn chẳng bao giờ dám nói tiếng Anh thật to, rõ ràng khi mình còn đầy lỗi sai. Ai chẳng sợ sai, sợ xấu hổ. Tuy nhiên, nếu bạn bước qua được sự sợ hãi, san bằng ranh giới giữa sự tự tin và sự sợ sai thì lúc đó bạn mới thực sự có cái tâm thoải mái để luyện nói tiếng Anh.

Hãy mắc lỗi, hãy nói vấp. Vì có như thế các bạn mới tự sửa lại và nói chuẩn được. Và nhớ 3 điều cảm xúc, năng lượng và sự tự tin. Khi có được chúng, bạn sẽ vượt qua mọi rào cản về Anh ngữ, và nói tiếng Anh như gió, không cần nghĩ.

Ba cách phát âm chữ F trong tiếng Anh


Trong hầu hết trường hợp, chữ F dù là viết với một chữ hay hai chữ F (FF) đều được phát âm là /f/.


Chỉ ngoại trừ trường hợp chữ F trong giới từ OF được phát âm là /v/ mà thôi. Chữ PH trong tiếng Anh cũng được phát âm là /f/.

Các cách phát âm cụ thể của chữ F trong tiếng Anh kèm theo các ví dụ như sau:

F hoặc FF được phát âm là /f/

1. affair /əˈfer/ (n) chuyện yêu đương

2. effective /ɪˈfektɪv/ (adj) có hiệu quả

3. fabulous /ˈfæbjʊləs/ (adj) tuyệt vời

4. facebook /ˈfeɪsbʊk/ (n) tên một trang mạng xã hội

5. factory /ˈfæktəri/ (n) nhà máy

6. fiction /ˈfɪkʃən/ (n) điều hư cấu

7. food /fuːd/ (n) lương thực

8. offence /əˈfents/ (n) sự phạm tội

9. staff /stæf/ (adj) nhân viên

10. stiff /ˈstɪf/ (adj) cứng

Chữ F được phát âm thành /v/ riêng với chữ OF

Chữ PH được phát âm là /f/

1. geography /dʒiˈɒgrəfi/ (n) địa lý

2. hieroglyph /ˌhaɪərəˈglɪf/ (n) mật mã

3. homophone /ˈhɑːməfəʊn/ (n) đồng âm

4. pharmacy /ˈfɑːməsi/ (n) hiệu thuốc

5. philosophy /fɪˈlɑːsəfi/ (n) triết học

6. phone /fəʊn/ (n) điện thoại

7. phonetics /fəʊˈnetɪks/ (n) ngữ âm học

8. photocopy /ˈfəʊtəʊkɒpi/ (n) máy phôtô

Lưu ý: Những nguyên tắc suy luận từ chữ viết đến âm thanh (spelling to sound) được viết trong chuỗi bài này đúng với hầu hết mọi từ vựng tiếng Anh, nhưng không áp dụng được với từ vay mượn từ ngôn ngữ khác trong tiếng Anh.

3 khả năng phát âm chữ H trong tiếng Anh


Âm /h/ được coi là âm nửa nguyên âm, nửa phụ âm, nên chữ H dù bắt đầu của một từ vựng nhưng rất nhiều khi không được phát âm.


Tuy không có nguyên tắc cụ thể cho chữ H khi nào thì câm và khi nào thì được phát âm rõ ràng, nhưng số lượng từ vựng bắt đầu bằng chữ H mà phát âm với chữ H câm không nhiều, nên căn bản là người học tiếng Anh có thể lưu tâm và học thuộc được chúng. Còn phần lớn các từ vựng có chữ H, thì chữ H được phát âm là /h/, và ngay cả cặp phụ âm WH thì khi gặp nguyên âm O theo sau nó, tức là WH + O, chữ WH cũng được phát âm là /h/.

Chữ H được phát âm là /h/

1. hammer /ˈhæmər/ (adj) cái búa

2. hazard /ˈhæzərd/ (n) mối nguy hiểm

3. hazy /ˈheɪzi/ (adj) mù mịt

4. heap /hiːp/ (n) đống

5. heat /hiːt/ (n) sức nóng

6. heel /hiːl/ (n) gót chân

7. hike /haɪk/ (v) đi bộ đường dài

8. hill /hɪl/ (n) đồi

9. holiday /ˈhɑːlɪdeɪ/ (n) ngày nghỉ

10. hook /hʊk/ (n) lưỡi câu

Chữ WH được phát âm là /w/, nhưng phần lớn chữ WH + O sẽ được phát âm là /h/

1. who /huː/ (pron)

2. whole /həʊl/ (n) toàn bộ

3. wholefood /ˈhəʊlfuːd/ (n) thức ăn nguyên chất

4. wholehearted /ˌhəʊlˈhɑːrtɪd/ (adj) toàn tâm toàn ý

5. wholenumber /həʊlˈnʌmbər/ (n) số nguyên

6. wholesale /ˈhəʊlseɪl/ (n) sự bán buôn

7. wholesome /ˈhəʊlsəm/ (adj) lành mạnh

8. whom /huːm/ (pron)

9. whose /huːz/ (pron) của ai

Chữ H cũng có thể không được phát âm, nó gọi là “ phụ âm câm”

1. honest /ˈɑːnɪst/ (adj) trung thực

2. honor /ˈɑːnər/ (n) danh dự

3. honorable /ˈɑːnərəbl/ (adj) danh giá

4. honorary /ˈɑːnəreri/ (adj) được trao như một danh dự

5. honorific /ˌɑːnəˈrɪfk/ (adj) kính cẩn

6. hourglass /ˈaʊrglæs/ (n) đồng hồ cát

Chú ý: Những nguyên tắc trên chỉ đúng với phần lớn các trường hợp chứ không thể áp dụng với 100% các từ vựng tiếng Anh có chứa chữ H

5 khả năng phát âm chữ I trong tiếng Anh


Nguyên âm luôn là những chữ cái phức tạp về cách phát âm trong tiếng Anh, nhưng chữ I có thể là nguyên âm ít phức tạp nhất.


I chỉ được phát âm là /ɪ/, /aɪ/, /ɜː/ hoặc /i:/ khi nó được kết hợp với các chữ cái khác nhau trong 5 trường hợp như sau:

Chữ I thường được đọc là /ɪ/

1. fill /fɪl/ (v) điền

2. fit /fɪt/ (adj) phù hợp

3. habit /ˈhæbɪt/ (n) thói quen

4. ill /ɪl/ (adj) ốm

5. inn /ɪn/ (n) quán trọ

6. kiss /kɪs/ (v) hôn

7. kit /kɪt/ (n) túi đựng đồ đạc

8. liberty /ˈlɪbəti/ (n) sự tự do

9. link /lɪŋk/ (n) liên kết

10. minute /ˈmɪnɪt/ (n) phút

11. miss /mɪs/ (v) nhớ

12. pink /pɪŋk/ (n) màu hồng

13. rabbit /ˈræbɪt/ (n) con thỏ

14. singer /sɪŋər/ (v) ca sĩ

15. wish /wɪʃ/ (v) mong ước

Chữ I được đọc là /aɪ/ khi được ce, de, gh, ke, le, me, nd, ne, te

1. high /haɪ/ (adj) cao

2. kind /kaɪnd/ (adj) tử tế

3. kite /kaɪt/ (n) cái diều

4. lime /laɪm/ (n) quả chanh

5. line /laɪm/ (n) đường kẻ

6. mice /maɪs/ (n) chuột (số nhiều của mouse)

7. mine /maɪn/ (pronoun) của tôi

8. nice /naɪs/ (adj) tốt, đẹp

9. shine /ʃaɪn/ (v) tỏa sáng

10. slide /slaɪd/ (n) ván trượt

11. smile /smaɪl/ (v) mỉm cười

12. time /taɪm/ (n) thời gian

Chữ I thường được đọc là /ɜː/ khi nó đứng trước r

1. firm /fɜːrm/ (n) công ty, tập đoàn

2. kirk /kɜːrk/ (n) nhà thờ

3. shirt /ʃɜːrt/ (n) áo sơ mi

4. skirt /skɜːrt/ (n) váy ngắn

5. smirk /smɜːrk/ (v) cười tự mãn

IE + một phụ âm sau đó, thì IE luôn phát âm là /i:/

1. niece /ni:s/ (n) cháu gái

2. piece /pi:s/ (n) miếng, mẩu

Exceptions (Ngoại lệ)

1. fierce /fɪrs/ (adj) mãnh liệt

2. lie /laɪ/ (v) nói dối

3. pie /paɪ/ (n) miếng bánh

4. tie /taɪ/ (n) cà vạt

Chữ I được đọc là /aɪ/ khi nó đứng trước re, rus

1. fire /faɪr/ (n) lửa

2. hire /haɪr/ (v) thuê

3. mire /maɪr/ (n) bãi lầy

4. tire /taɪr/ (n) lốp xe

5. virus /ˈvaɪrəs/ (n) virus

Lưu ý: Những nguyên tắc trên chỉ đúng với phần lớn các trường hợp. Vẫn còn những ngoại lệ và những từ tiếng Anh vay mượn từ ngôn ngữ khác

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016

Tình yêu: Giải pháp cứu vãn nền giáo dục của Việt Nam?

Bài này tôi viết để gửi (và đã đăng) Tập san Giáo huấn Xã hội Công giáo, viết với quan điểm của một người có niềm tin Công giáo về giải pháp cho nền giáo dục của VN.
----------------

TÌNH YÊU: Giải pháp cứu vãn nền giáo dục của Việt Nam?

Phương Anh



Giáo dục Việt Nam đã xuống cấp quá sức trầm trọng. Chúng ta đã tụt hậu rất nhiều, không chỉ khi so với các nước trên thế giới và trong khu vực, mà còn cả khi so với chính chúng ta nữa.
 
Những phát biểu rất đụng chạm này lẽ ra phải làm cho người nghe Việt Nam cảm thấy tự ái và đòi được chứng minh, nhưng hình như cho đến nay thì điều này đã quá rõ đến độ không ai thèm cần chứng cứ nữa. Chỉ cần gõ “giáo dục Việt Nam xuống cấp” vào google thì ta sẽ có ngay hằng hà sa số những bài viết để chứng minh sự xuống cấp của nền giáo dục Việt Nam.

Chất lượng thấp của nền giáo dục không chỉ được biểu hiện bằng chất lượng thấp của nhân lực (ngày càng có nhiều sinh viên tốt nghiệp nhưng không tìm được việc làm; nền sản xuất èo uột, không có bất kỳ phát minh sáng chế nào để phục vụ cho cuộc sống…) mà còn thể hiện qua đạo đức cá nhân và xã hội (học sinh xích mích với nhau là sẵn sàng rút dao đâm bạn; thầy giáo lạm dụng tình dục học trò vị thành niên; thi cử gian lận, mua bằng bán điểm; cả làng xông vào đánh chết người trộm chó mà không cần có sự can thiệp của pháp luật, vv…). Càng nói ra, có lẽ chỉ càng đau lòng mà thôi.
 
Có giải pháp nào cho nền giáo dục của Việt Nam không? Đã có rất nhiều đề xuất cũng như nỗ lực cải tổ về mặt kỹ thuật của giáo dục. Cấu trúc lại chương trình đào tạo đại học. Phân tầng và xếp hạng các trường. Chuẩn hóa năng lực thầy/cô giáo qua những đòi hỏi về bằng cấp, chứng chỉ. Soạn lại sách giáo khoa. Nhập các chương trình tiên tiến của nước ngoài. Cải cách thi cử. Trao thêm quyền tự chủ cho các trường. Chấp nhận một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa…. Nhưng có vẻ như hầu hết mọi nỗ lực đổ ra đều bỏ sông bỏ bể, nếu không muốn nói chỉ là chữa “lợn lành thành lợn què” mà thôi. 
 
Đặt thực trạng của nền giáo dục Việt Nam vào bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước ngày nay, người ta dễ có cảm giác tuyệt vọng, buông xuôi. Vâng, một cá nhân như tôi, một người đã phục vụ trong ngành giáo hết cả cuộc đời làm việc của mình, liệu tôi có thể làm gì đây? 
 
Khuyên sinh viên đừng quay cóp, đừng mua bằng mua điểm, mà hãy học để cho chính mình ư? Tôi hoàn toàn có thể nghiêm khắc với sinh viên của một khóa, nhưng điều đó chỉ làm cho các sinh viên đánh giá tôi thấp trong phiếu đánh giá giảng viên ở cuối học kỳ, và sinh viên các khóa sau sẽ tránh không học với tôi nữa. Thậm chí tôi có thể bị mất việc. 
 
Đóng góp ý kiến với cấp trên ư? Lâu nay tôi vẫn cố gắng làm điều ấy. Nhưng đa số những lời góp ý của tôi – và của những người có thiện tâm khác trong cùng cơ quan – đều rơi vào không trung và tan biến. Fall on deaf ears (rơi vào những cái tai điếc), như  trong tiếng Anh người ta thường nói. Chưa kể, ai cũng biết rằng con đường thăng tiến trong nghề nghiệp của tôi khá lận đận là do tôi không biết “giữ mồm giữ miệng”, cứ công khai chỉ ra những điều trái tai gai mắt mà chẳng ai muốn nghe. Bởi, “làm láo báo cáo tốt” để rồi nhận được những huân chương, khen thưởng, thăng chức từ cấp trên dường như đã trở thành căn tính mới của ngành giáo dục Việt Nam từ lâu nay rồi thì phải.
 
Vậy thì sao? Tất cả chúng ta sẽ cùng chấp nhận bó tay nhìn cho nền giáo dục của Việt Nam tiếp tục tuột dốc cho xuống tận đáy, đến độ không còn ai tin vào nó, kể cả những người làm trong ngành giáo dục như tôi ư? Chúng ta sẽ khoanh tay ngồi yên để tiếp tục nhìn làn sóng tị nạn giáo dục diễn ra với quy mô ngày càng lớn hơn, đến độ ai có nhiều tiền thì cho con em đi học ở các nước phát triển cao như Anh, Mỹ, châu Âu, ai ít tiền hơn thì cho con sang những nước thường thường bậc trung như Mã Lai, Thái Lan, Indo, Philippines, Trung Quốc? 
 
Vậy còn chúng ta, những người có niềm tin Công giáo? Những người tự nhận là con Thiên Chúa, những người được Chúa dạy phải làm “muối của đời” và “ánh sáng của thế gian”? Chúng ta cũng sẽ ngồi yên, không làm gì cả, và đổ lỗi tất cả cho hoàn cảnh chứ? Vì chúng ta không có quyền hành, không có chức vụ, không có điều kiện, nên chúng ta không cần phải làm gì hết, vì đó không phải là trách nhiệm của chúng ta?

Không, không thể như thế. Niềm tin vào Thiên Chúa buộc chúng ta phải làm một điều gì đó. Nhưng làm gì đây? Tôi nghĩ, đầu tiên chúng ta cần phải hiểu rõ ý nghĩa căn bản của từ “giáo dục”. Tốt nhất, hãy cùng định nghĩa giáo dục là gì, rồi từ đó mới biết chúng ta có thể làm gì. 
 
Từ điển bách khoa trực tuyến mở Wikipedia đưa ra định nghĩa về giáo dục như sau:
Giáo dục là quá trình tạo ra việc học. Kiến thức, kỹ năng, giá trị, niềm tin, thói quen của một nhóm người được truyền sang cho những người khác, thông qua việc kể truyện, trao đổi, giảng dạy, huấn luyện, hoặc nghiên cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của các nhà giáo, nhưng người học cũng có thể tự giáo dục chính mình thông qua một quá trình gọi là học tập tự thân. Bất kỳ một trải nghiệm nào tạo ra được một hiệu ứng hình thành nên cách suy nghĩ, cảm nhận, hoặc hành động của chúng ta đều có thể được xem là có tính giáo dục.[i]
 
Đọc lại định nghĩa về giáo dục nêu trên – dù thực ra rất quen thuộc và không có gì là mới mẻ – bỗng làm cho tôi bừng tỉnh. Giáo dục không phải chỉ là việc của nhà trường, cũng chẳng phải  chỉ là việc của các  nhà giáo. Giáo dục không chỉ nhằm dạy kiến thức và kỹ năng, mà còn  – và có lẽ quan trọng hơn nhiều trong sự xuống cấp giáo dục và đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay – nhằm tạo ra những giá trị, niềm tin, và thói quen cho thế hệ. Giáo dục cũng không chỉ có thể diễn ra dưới dạng bài giảng, seminar, bài nghiên cứu, thi cử, mà mọi trải nghiệm của con người đều có tính giáo dục, miễn là nó tác động đến việc hình thành nhân cách của một người – đặc biệt là những người trẻ, lứa tuổi rất dễ bị tác động bởi ngoại cảnh.
 
Nói về các trải nghiệm, kể cả những trải nghiệm rất nhỏ, tôi muốn kể một việc này. Có một buổi tôi đưa một người bạn không phải là người Công giáo nhưng có quan tâm tìm hiểu đạo Thiên Chúa đi dự lễ ở nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm trên đường Hoàng Hoa Thám, Quận Bình Thạnh. Khi xong lễ, chúng tôi bước ra ngoài sân nhà thờ thì thấy xe của người đi lễ được gửi đầy sân đến nỗi không có chỗ mà đi. Bạn tôi lo lắng, vì đinh ninh rằng việc lấy xe sẽ rất hỗn loạn và mất nhiều thời gian, cùng sự căng thẳng không đáng có. Nhưng không, không hề có cảnh chen lấn, mà ngược lại là một sự nhường nhịn và kiên nhẫn khó thấy ở những nơi công cộng của Việt Nam. Những người có xe để ở vị trí thuận tiện nhất thì ra lấy trước, và sau đó là những người khác, tuần tự theo vị trí thuận tiện để lấy xe. Chỉ vài phút là sân nhà thờ đông nghẹt đã trống hẳn, mà không hề có sự la ó, chửi mắng, giành giựt thường thấy ở Việt Nam. Người bạn tôi thốt lên: “Đúng là cách ứng xử của những người có giáo dục, có nhân cách. Chỉ cần các trường giáo dục cho các em biết cách nhường nhịn tương tự như vậy, thì xã hội Việt Nam có lẽ đã bớt hẳn bạo lực đi rồi”.
 
Nghe câu nói ấy, tôi vừa hãnh diện mà vừa cảm thấy xấu hổ. Tôi, một người Công giáo, là “ánh sáng của thế gian”, tôi đã nỗ lực hết cỡ chưa, hay chỉ biết tuyệt vọng, than van? 
 
Tôi muốn kết thúc bài này bằng một câu trích dẫn từ O. Henry, người đã từng viết, “If one loves one’s art, no service seems too hard.” Nếu chúng ta yêu công việc mình làm thì không có gì là quá khó. Chỉ xin đổi lại một chút: “Không có điều gì là quá NHỎ, nếu chúng ta thực hiện nó với một tình yêu”.  
 
Vâng, tình yêu của Chúa.



[i] Education is the process of facilitating learning. Knowledge, skills, values, beliefs, and habits of a group of people are transferred to other people, through storytelling, discussion, teaching, training, or research. Education frequently takes place under the guidance of educators, but learners may also educate themselves in a process called autodidactic learning.[1] Any experience that has a formative effect on the way one thinks, feels, or acts may be considered educational.

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2016

Nói chuyện tiếng Anh (16): Grooming có phải là "chải chuốt"?

Câu trả lời là đúng, grooming là “chải chuốt”, mà chính xác hơn là "chải lông ngựa", nếu bạn tra một cuốn từ điển Anh - Việt. Ví dụ như nếu bạn tra ở trang này, một trang khá phổ biến, với cái tên dễ nhớ là “tra từ”: http://tratu.soha.vn/dict/en_vn/Groom


Ở cùng trang ấy, bạn sẽ tìm thấy một nghĩa nữa là “chuẩn bị cho một người nào đó bước vào nghề gì”, ví dụ to groom someone for stardom, tức là chuẩn bị cho ai đó thành “sao”. Đây là cách nói thông tục, tức là dùng trong ngôn ngữ nói hàng ngày, nếu bạn dựa vào cùng cuốn từ điển đang tra.


Tất cả những điều trên đều chính xác, nhưng chưa đủ. Ví dụ, bạn sẽ dịch những câu này sang tiếng Việt như thế nào?

Child sexual abuse: 6 stages of grooming
Sexual offender tactics and grooming
Grooming children for sexual molestation
How do I protect my child from being groomed?

Rõ ràng trong những câu trên nếu dịch groom/ grooming là chải chuốt thì rất kỳ khôi. Bởi vì groom/ grooming với nghĩa chải chuốt, ăn mặc chỉnh tề, hoặc chuẩn bị để vào nghề vv chỉ là nghĩa thông thường, là nghĩa thường thấy trong các từ điển phổ thông, đặc biệt là trong các từ điển Anh – Việt (do chậm cập nhật). Trong khi đó, tất cả các câu trên đều có liên quan đến một chủ đề đặc biệt, và đang trở nên rất “hot” ở VN, chủ đề “child sexual abuse” tức là “lạm dụng tình dục trẻ em”. Vì vậy muốn hiểu nghĩa của từ này thì không thể tìm trong các từ điển phổ thông được, mà phải tìm trong các bài viết hoặc các từ điển chuyên biệt.


Vậy trong trường hợp đó thì grooming có nghĩa gì? Hãy xem định nghĩa dưới đây, phần có màu xanh:


“Sexual predators have several tools at their disposal to carry out their sickening abuses on children; fear, isolation, power, and silence are major tactics used by molesters. Perhaps the most effective and deceptive tool predators’ use is the grooming process to prepare their victims for an eventual abuse.


Specifically, grooming is the tactic of gradually and methodically building trust with a child – and the adults around them – to gain increased access and alone time with their future victim. This can come in several forms; the offender may assume a caring role in the child’s life – behaviors such as favoritism, granting special privileges are just a couple forms that the ‘caring’ role is assumed by the predator.”


Tạm dịch như sau:

"Grooming là chiến thuật xây dựng lòng tin với một đứa trẻ – và những người lớn xung quanh đứa bé – một cách từ từ và có hệ thống để có thể tăng cường tiếp cận và có được thời gian riêng với nạn nhân trong tương lai."


Bài viết trên có thể đọc đầy đủ ở đây: http://www.childmolestationvictims.com/the-grooming-process-how-sexual-predators-con-you-and-your-child/


Nhưng tại sao tôi lại viết về “grooming” hay chải chuốt vào lúc này? À, vì trong những trao đổi trên fb của tôi, có người chỉ ra một bài viết gần đây về “ấu dâm” của một người ký tên là BS Hồ Hải, trong đó có đoạn như thế này:


Quá trình này được gọi là quá trình tạo dựng hình ảnh "chải chuốt".Và những người này là ai? Thông thường đó là những người mà bạn mong chờ nhất - một giáo viên mẫu mực, người hàng xóm đáng tin cậy, một người bạn trai, một nghệ sĩ nổi tiếng, một chính trị gia nổi tiếng hay một nhà truyền giáo có nhiều hoạt động dành cho trẻ em. Trước hết, một bệnh nhân ấu dâm cố gắng để trở thành người bạn tốt nhất của một đứa trẻ, một cố vấn đáng tin cậy, và làm cho trẻ cảm thấy được yêu thương, chấp nhận và trân trọng. Họ rất có kinh nghiệm và là những kẻ nói dối rất thuyết phục.


Rõ ràng, trong đoạn văn trên, từ “chải chuốt” hơi … lạ lạ. Vì từ “chải chuốt” trong tiếng Việt chủ yếu chỉ hình thức bên ngoài, gồm ăn mặc và trang điểm, chứ không nói gì đến quan hệ tình cảm cả. ĐỊnh nghĩa “chải chuốt” trong Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, trang 304 như sau:


- sửa sang, trang điểm làm cho hình thức đẹp hơn

- có hình thức được sửa sang, trang điểm một cách công phu, thậm chí đến mức cầu kỳ

Nhưng nếu ai hiểu tiếng Anh thì sẽ nhận ngay ra từ “chải chuốt” ở đây chẳng qua là dịch sai từ “grooming” trong tiếng Anh mà thôi. Mà grooming thì có định nghĩa chuyên biệt như tôi đã nêu ở trên.


Bài học ở đây là gì? Khi đọc và dịch tiếng Anh, thấy một từ quen quen thì chưa chắc là mình đã hiểu rõ nghĩa. Nếu bài viết về một chủ đề hơi chuyên biệt thì rất có thể từ quen thuộc ấy có nghĩa riêng, chứ không phải nghĩa phổ thông mà mình đã biết. Ngoài ra, khi gặp từ mới thì không nên chỉ tra từ điển Anh -Việt, mà nên tra từ điển Anh-Anh trước đã, vì các từ điển này thường cập nhật nhanh hơn so với từ điển Anh-Việt (do phải chờ người dịch ra từ những cuốn từ điển của nước ngoài). Riêng trong trường hợp “grooming”, nếu ai tra từ điển Cambridge (phiên bản online) thì có thể thấy ngay nghĩa chuyên biệt như thế này: http://dictionary.cambridge.org/dictionary/english/grooming

· grooming noun [U] (SEX)

› the ​criminal ​activity of ​becoming ​friends with a ​child, ​especially over the internet, in ​order to ​try to ​persuade the ​child to have a ​sexual ​relationship


Dịch thoát: "một hành vi tội phạm, đó là kết thân với một đứa trẻ, đặc biệt là làm quen qua mạng, để tìm cách thuyết phục đứa trẻ này có quan hệ tình dục với mình". 

Từ này có thể dịch ra tương đương trong tiếng Việt là "kết thân nhằm lạm dụng tình dục".


Nghĩa này chỉ dùng trong bối cảnh nói về “sex”, như các bạn có thể thấy nêu rõ trong ngoặc đơn phía trên.


Tất nhiên là không phải ai cũng đọc được từ điển đơn ngữ (Anh-Anh). Trong trường hợp ấy thì phải làm thế nào?


Well, đây là một câu hỏi dễ trả lời nhưng không dễ làm. Một là bạn tự đi học thêm tiếng Anh để có thể dùng được từ điển Anh-Anh. Thường nếu bạn đạt trình độ B1 của “chuẩn châu Âu” (tức bậc 3 ở VN) thì bạn đã có thể dùng từ điển đơn ngữ được rồi. Đây là điều mà các bạn nên làm, vì thời nay không có tiếng Anh thì cũng gần như là mù chữ của đầu thế kỷ 20 rồi bạn ạ.


Còn nếu không thể đi học hả, thì, well, cố gắng tìm những người thực sự hiểu biết mà hỏi. Đừng bạ ai cũng tin, vì thời này có nhiều người chỉ cần giỏi “gúc Đông, gúc Tây” để hiểu sơ sơ rồi phán lung tung, nghe sơ sơ cũng có lý lắm. Chỉ khi đọc kỹ mới thấy rất nhiều sơ hở, như ví dụ grooming ở trên. Chỉ có điều, ai là người thực sự hiểu biết thì cũng khó biết lắm nhỉ. Đành phải dựa vào kinh nghiệm riêng của từng người thôi. Riêng về tiếng Anh thì bạn cứ hỏi … tôi cũng được, vì tôi cũng biết kha khá và sẽ cố gắng trả lời nếu không bận lắm. Chỉ có điều là tôi khá bận, he he ….


Tốt nhất là cứ học tiếng Anh cho mình, chẳng mất đi đâu bạn ạ! Chẳng bị ai lừa, cũng chẳng làm phiền ai, và chắc chắn là sẽ tốt cho công việc và cuộc sống của mình nữa.


Vậy thì, chúng ta hãy cùng học tiếng Anh. Và good luck to you all!